Hơn 100 chủng loại hàng hóa, sản phẩm tiêu biểu, sản phẩm OCOP, đặc sản Quảng Bình quy tụ tại triển lãm quảng bá ở TP.HCM diễn ra trong 7 ngày.
"Tuần lễ triển lãm, giới thiệu quảng bá sản phẩm nông sản, sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu, sản phẩm OCOP, đặc sản Quảng Bình" sẽ diễn ra từ ngày 6 đến 11-10 tại showroom xuất khẩu nằm trên đường Nguyễn Huệ (quận 1).
Sự kiện do Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại tỉnh Quảng Bình kết hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức.
Tại tuần lễ, các doanh nghiệp tỉnh Quảng Bình trưng bày, quảng bá tới người tiêu dùng TP.HCM hơn 100 chủng loại hàng hóa, sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu, sản phẩm OCOP và đặc sản Quảng Bình.
Phát biểu tại lễ khai mạc, ông Phạm Quang Hải - giám đốc Sở Công Thương tỉnh Quảng Bình - cho biết tính đến tháng 9-2023, hoạt động sản xuất công nghiệp của tỉnh liên tục tăng trưởng trung bình 6,8% so với cùng kỳ năm trước.
Ông Hải cho hay Quảng Bình hiện có khoảng 7.000 cơ sở sản xuất, hợp tác xã... Đến nay, toàn tỉnh có 145 sản phẩm OCOP được công nhận. Trong đó, 19 sản phẩm đạt 4 sao, 126 sản phẩm đạt 3 sao.
Một số sản phẩm OCOP, đặc sản Quảng Bình có thể kể đến như cá bờm (mờm) trắng, nước mắm Ngọc Biển, cao thìa canh Thanh Bình... Nhiều sản phẩm cũng đã có mặt tại các hệ thống siêu thị lớn, cửa hàng tiện ích trong và ngoài tỉnh.
Tuy nhiên, trước tình hình kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn và diễn biến khó lường, việc tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa hết sức cần thiết.
Khách tham quan thích thú nếm thử các loại khô cá đặc sản Quảng Bình tại triển lãm - Ảnh: NHẬT XUÂN
Sản phẩm kem dưỡng tóc có thành phần từ thiên nhiên như sáp dừa, dầu dừa... được giới thiệu tại triển lãm - Ảnh: NHẬT XUÂN
Ông Hải bày tỏ kỳ vọng tuần lễ quảng bá sản phẩm đặc trưng tỉnh Quảng Bình sẽ giúp các doanh nghiệp trong tỉnh mở rộng thị trường, có thêm cơ hội hợp tác đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đồng thời, triển lãm cũng góp phần nâng tầm giá trị cho các sản phẩm, đặc sản Quảng Bình, đem các sản phẩm chất lượng cao của tỉnh tới gần người tiêu dùng thành phố.
Liên tiếp lập kỷ lục, nông sản Việt thành 'ngôi sao' trên thị trường thế giới
TPO - Trái ngược với bức tranh ảm đạm của nhiều ngành hàng, từ đầu năm đến nay nhiều mặt hàng nông sản ghi nhận kỷ lục mới, với kim ngạch xuất khẩu và giá bán cao.
Rau, củ, quả lên ngôi
Theo số liệu vừa được Hiệp hội Rau quả Việt Nam công bố dựa trên tính toán từ cơ quan hải quan, trong 9 tháng xuất khẩu rau quả ước đạt 4,1 tỷ USD, tăng gần 70% so với cùng kỳ năm ngoái, và cao hơn 24% so với cả năm 2022.
Trong số các nhóm rau quả, sầu riêng, chuối, thanh long đóng góp lớn vào tăng trưởng. Đặc biệt, mặt hàng sầu riêng trở thành cơn sốt gây nhiều sự chú ý khi từ vị trí thứ 4 trong nhóm các loại quả vươn lên dẫn đầu về xuất khẩu, vượt cả chuối và thanh long để gia nhập nhóm trái cây tỷ USD. Loại "vua trái cây" này đóng góp tới 30% trong tổng kim ngạch của ngành rau quả, và dự báo sẽ sớm cán đích 1,5 tỷ USD trong tháng tới.
Ngoài rau quả, số liệu thống kê mới nhất từ Tổng cục Hải quan cũng cho thấy, tính đến ngày 15/9, xuất khẩu gạo đạt 6,1 triệu tấn với khoảng 3,3 tỷ USD, tăng 22% về khối lượng và tăng 36,1% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam lập kỷ lục trong 11 năm trở lại đây và đạt mức cao nhất thế giới.
Bình quân trong 8 tháng ước đạt 542 USD/tấn, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là kỷ lục mà ngành gạo Việt Nam đạt được nhờ cơn sốt lương thực toàn cầu đang diễn ra.
Theo dự báo, nếu tiếp tục đà tăng trưởng như hiện tại, năm nay kim ngạch xuất khẩu gạo Việt Nam chắc chắn sẽ cán mốc 4 tỷ USD, mốc cao nhất trong vòng 10 năm trở lại.close
Cà phê "dậy sóng"
Trong những ngày này, xuất khẩu cà phê cũng làm dậy sóng thị trường nông sản. Tính đến ngày 15/9, xuất khẩu cà phê đạt 1,2 triệu tấn (giảm hơn 5%), song kim ngạch lại đạt hơn 3 tỷ USD, tăng 5%. Đáng chú ý, giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam ghi nhận ở mức kỷ lục mức trong 30 năm khi trung bình 8 tháng đạt 2.463 USD/tấn, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm ngoái.
Theo Hiệp hội Cà phê-Cacao Việt Nam, giá cà phê tăng liên tục bởi cung không đủ cầu. Dự báo sản lượng cà phê năm nay giảm đến 10-15%/năm do thời tiết không thuận lợi. Tuy vậy, xuất khẩu cà phê cả năm sẽ đạt khoảng 1,7 triệu tấn, với kim ngạch xuất khẩu 4,2 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay.
Một mặt hàng xuất khẩu tỷ USD khác của ngành nông nghiệp cũng đang ngược dòng tỏa sáng là hạt điều. Tính đến ngày 15/9, xuất khẩu điều đạt gần 421 nghìn tấn, tăng khoảng 15%, với kim ngạch đạt hơn 2,4 tỷ USD, tăng khoảng 9%.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) cho biết, tính đến hết tháng 8, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt 33,2 tỷ USD, giảm 9,5%.
Để hoàn thành được mục tiêu xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 54 - 55 tỷ USD, bộ sẽ tiếp tục theo dõi, nắm bắt tình hình giá cả, nguồn cung các mặt hàng lương thực thực phẩm thiết yếu, báo cáo Tổ điều hành Thị trường trong nước và Ban Chỉ đạo giá của Chính phủ; đồng thời phối hợp với các địa phương hỗ trợ kết nối, thúc đẩy chế biến, tiêu thụ các sản phẩm nông sản vào vụ thu hoạch.
Bộ NN&PTNT đẩy mạnh phát triển thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, trong đó tiếp tục xử lý các vấn đề thị trường nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu nông sản, thủy sản xuất sang Trung Quốc, Mỹ, châu Âu, liên minh kinh tế Á - Âu, tận dụng lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do...
Phấn đấu đến năm 2030, cả nước sẽ có 45.000 hợp tác xã
Hiện nay, trong hơn 31 nghìn hợp tác xã trên cả nước, có hơn 20 nghìn hợp tác xã nông nghiệp, chiếm trên 64% tổng số hợp tác xã cả nước. Nhiều loại hình hợp tác xã liên kết trong sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, tạo nên các chuỗi liên kết nông sản đa giá trị, bền vững…
Toàn cảnh Diễn đàn.
Phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn Nông dân Quốc gia lần thứ VIII năm 2023, ngày 12/10, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái nhấn mạnh: “Đảng, Nhà nước xác định rõ và coi kinh tế tập thể là một trong 4 thành phần kinh tế không thể thiếu, cùng với kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài FDI, tạo nên sự ưu việt của nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”.
Diễn đàn Nông dân Quốc gia lần thứ VIII năm 2023 với chủ đề: "Hội Nông dân Việt Nam tham gia phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp" nằm trong khuôn khổ Chương trình Tự hào Nông dân Việt Nam 2023 do Trung ương Hội Nông dân Việt Nam chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Công Thương tổ chức.
SỐ LƯỢNG HỢP TÁC XÃ MỚI THÀNH LẬP TĂNG MẠNH
Phát biểu khai mạc Diễn đàn, ông Lương Quốc Đoàn – Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam cho biết từ năm 2018 đến nay, thông qua hoạt động của các cấp Hội Nông dân đã thành lập trên 23.000 mô hình kinh tế tập thể hoạt động có hiệu quả, trong đó có trên 3.800 hợp tác xã (HTX) và trên 19.000 tổ hợp tác (THT) nông nghiệp đạt hiệu quả cao với doanh thu bình quân mỗi hợp tác xã đạt 5,5 tỷ đồng/năm, lợi nhuận 350 triệu đồng/năm. Số hợp tác xã có sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP từ 3 sao trở lên ngày càng tăng với trên 700 hợp tác xã (chiếm gần 20%). Các mô hình HTX nông nghiệp tổ chức sản xuất, kinh doanh gắn với chuỗi giá trị ngày càng tăng.
Diễn đàn Nông dân Quốc gia lần thứ VIII năm 2023.
Ông Đặng Văn Thanh, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cho hay số lượng HTX có xu hướng tăng trong giai đoạn 10 năm 2013-2022, tốc độ tăng bình quân khoảng 4,8%/năm. Đặc biệt từ khi Nghị quyết số 20-NQ/TW được ban hành, số lượng HTX tăng mạnh, trong năm 2022 với 2.036 HTX, đã tăng trên 7,4% so với năm 2021. Tính đến hết tháng 9/2023, cả nước có khoảng 31.700 HTX, 158 liên hiệp HTX và 73 nghìn THT. Trong đó có 20.357 HTX nông nghiệp và 11.343 HTX phi nông nghiệp.
Theo ông Nguyễn Tiến Cường - Quyền Trưởng ban Kinh tế, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, đến nay cả nước đã có 3.645 chi Hội Nông dân nghề nghiệp, 36.363 tổ Hội Nông dân nghề nghiệp với 482.362 hội viên. Hội Nông dân các cấp đã chủ trì, phối hợp tổ chức hơn 1000 hội chợ, triển lãm, giới thiệu, xúc tiến thương mại; liên kết với doanh nghiệp, hệ thống siêu thị, chợ đầu mối ký kết 2.761 hợp đồng tiêu thụ nông sản của các HTX.
Đồng thời, các hoạt động hỗ trợ vốn cũng được đẩy mạnh, chỉ tính trong giai đoạn 2018-2022, các cấp Hội Nông dân đã hỗ trợ vốn cho các nhóm hộ với hơn 9.000 dự án (quy mô 300-500 triệu/dự án) từ nguồn quỹ hỗ trợ nông dân với tổng dư nợ trên 15.000 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, thực hiện tín chấp với các ngân hàng và tổ chức tín dụng để ủy thác cho vay đối với hơn 3 triệu lượt hộ với tổng dư nợ trên 140.000 tỷ đồng; phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ hỗ trợ tín dụng ưu đãi với gần 11.000 tỷ đồng để xây dựng các mô hình phát triển kinh tế hợp tác, kinh tế hộ, trang trại, gia trại.
HỢP TÁC XÃ CŨNG GIỐNG “HÙN HẠP”, CÓ HẠP THÌ MỚI HÙN
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan gửi đến Diễn đàn câu hỏi: Có phải mô hình Hợp tác xã kiểu cũ vẫn còn ám ảnh dẫn đến hiểu không đúng về mô hình Hợp tác xã kiểu mới? Có phải do hiểu ra rồi nhưng vì tinh thần hợp tác của người mình yếu kém?
Bộ trưởng kể, có một nông dân ưu tư: “Hợp tác” cũng tương tự như “hùn hạp” thôi, nếu thấy “hạp” nhau thì “hùn”, khi không còn “hạp” nhau thì không “hùn” nữa, vốn ai nấy rút về. “Hợp” hay “hạp” là khái niệm vô hình và không bất biến. Có khi hôm nay còn “hạp” nhau mà ngày mai lại khác. Hợp tác là cùng nhau góp vào, cùng nhau chia ra, nhưng phải đảm bảo công bằng dựa trên nguồn vốn, công sức. Hợp tác là sự chia sẻ để nhân lên giá trị rồi phân chia giá trị đó sao cho công bằng. Nhưng ngay khái niệm “công bằng” đôi khi cũng mơ hồ do nhiều yếu tố tác động đến.
“Con người dễ có cảm xúc mình bị thua thiệt và không muốn thua thiệt. “Đồng tiền liền khúc ruột” mà. Muốn hùn hạp, hợp tác bền vững thì mỗi thành viên đôi khi phải biết làm bài toán trừ trước khi muốn có bài toán cộng, biết làm bài toán chia trước khi muốn có bài toán nhân. Hợp tác không chỉ là góp vốn góp công mà là góp niềm tin, là sự sẻ chia, là sự đồng điệu, có đồng điệu thì nhiều tay vỗ nên kêu”, ông Hoan nói.
Theo Bộ trưởng Lê Minh Hoan, hợp tác xã là một thiết chế kinh tế nhưng nền tảng bền vững lại mang yếu tố tâm lý xã hội, tâm trạng con người. Hiểu rõ điều đó để không thể dùng mệnh lệnh hành chính hay vì chỉ tiêu thành tích mà áp đặt. Làm bất kỳ công việc gì mà nhận ra giá trị càng cao thì càng có nhiều động lực. Ngược lại, làm theo kiểu có cũng được mà không có cũng chẳng mất gì thì dễ bỏ cuộc, rồi sẽ tìm cách biện minh. Nào là do ý thức của người dân. Nào là do cơ chế hỗ trợ chưa đủ mạnh. Nào là thiếu nhân lực lại chồng chéo trong quản lý. Khi biện minh thì sẽ lúng túng trong tìm ra giải pháp.
“Luật Hợp tác xã sửa đổi đang trong quá trình hoàn thiện và rồi sẽ được ban hành. Cơ chế chính sách hỗ trợ rồi dần sẽ được mở ra dựa theo nguồn lực đất nước và năng lực quản trị của từng Hợp tác xã. Tuy nhiên, muốn tổ chức thực hiện suôn sẻ phải thống nhất nhận thức về bản chất, mục tiêu, triết lý của Hợp tác xã”, Bộ trưởng Lê Minh Hoan nêu quan điểm.
Phát biểu chỉ đạo tại diễn đàn, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái cho biết Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới đã khẳng định: "Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế quan trọng, phải được củng cố và phát triển cùng kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân". Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 02/02/2023 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW.
“Đảng, Nhà nước xác định rõ và coi kinh tế tập thể là một trong 4 thành phần kinh tế không thể thiếu, cùng với kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài FDI, tạo nên sự ưu việt của nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh.
Phó Thủ tướng Lê Minh Khái phát biểu tại Diễn đàn.
Phó Thủ tướng Lê Minh Khái đề nghị Hội Nông dân các cấp tiếp tục thực hiện việc tuyên truyền, vận động, hướng dẫn thành lập mới được nhiều hợp tác xã, tổ hợp tác hơn nữa. Hợp tác xã, tổ hợp tác mới được thành lập phải hoạt động hiệu quả, thiết thực, phải tạo được chuỗi liên kết bền vững giữa hợp tác xã/tổ hợp tác với doanh nghiệp; với nhà nước; nhà khoa học; ngân hàng. Phấn đấu mục tiêu chung là đến năm 2030, cả nước sẽ có 45.000 hợp tác xã với 2 triệu thành viên tham gia.
Phó Thủ tướng giao Trung ương Hội Nông dân Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ, cơ quan liên quan khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Hội Nông dân Việt Nam tham gia phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp”. Các nội dung Đề án phải đảm bảo tính khả thi, huy động được nguồn lực của xã hội, hộ gia đình, cá nhân cùng tham gia.
“Cần tăng cường hợp tác quốc tế để thu hút các nguồn lực hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hơp tác xã trong nông nghiệp và mở rộng thị trường, giới thiệu tiêu thụ sản phẩm của các hợp tác xã; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nguồn nhân lực các tổ chức kinh tế tập thể. Cần xây dựng cơ chế, chính sách để đào tạo, bồi dưỡng, thu hút đội ngũ tri thức trẻ về làm việc tại các hợp tác xã, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao trong xây dựng chuỗi giá trị, hội nhập quốc tế”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh.
Những mặt hàng giúp nông sản Việt xuất khẩu ngoạn mục
TPO - Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nhờ sự tăng đột biến của một số mặt hàng, xuất khẩu nông sản đang có dấu hiệu hồi phục. Tính đến hết tháng 9, xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản đạt 38,5 tỷ USD, giảm nhẹ 5,1% so với con số kỷ lục của năm ngoái.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) thông tin, trong tháng 9, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, thủy sản ước đạt 4,8 tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm ngoái.
Tính từ đầu năm đến nay, xuất khẩu đạt gần 38,5 tỷ USD, giảm 5,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Đóng góp cho kim ngạch toàn ngành, thủy sản đạt 6,6 tỷ USD, giảm 21,7%, lâm sản đạt 10,4 tỷ USD, giảm 20,6%; đầu vào sản xuất 1,5tỷ USD, giảm 20,2%.
chóm nông sản và chăn nuôi tăng mạnh nhờ một số mặt hàng tăng đột biến. Chẳng hạn, rau quả đạt 4,2 tỷ USD, tăng 71,8%, gạo đạt 3,6 tỷ USD tăng 40,4%, g 1,9% và sản phẩm chăn nuôi ước đạt 369 triệu USD, tăng 26,4%.
Theo Bộ NN&PTNT, Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản tiếp tục duy trì là 3 thị trường xuất khẩu lớn nhất của hàng nông, lâm, thủy sản của Việt Nam.
Những mặt hàng giúp nông sản Việt xuất khẩu ngoạn mục ảnh 1
Xuất khẩu các mặt hàng rau quả năm nay tăng mạnh gần 72%.
Ở chiều ngược lại, nhập khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản từ đầu năm đạt 30,4 tỷ USD, đưa thặng dư thương mại của ngành đạt 8,04 tỷ USD, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm trước.
Để hoàn thành mục tiêu đề ra, Bộ NN&PTNT cho biết sẽ tiếp tục đẩy mạnh thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, trong đó xử lý các vấn đề thị trường Trung Quốc, Mỹ, châu Âu...
Bộ này phối hợp với các đơn vị, doanh nghiệp thúc đẩy việc tận dụng các Hiệp định thương mại tự do để đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông, lâm, thủy sản chủ lực, hỗ trợ doanh nghiệp ký kết đơn hàng xuất khẩu mới, phối hợp hỗ trợ bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam ở nước ngoài
Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam hiện ở mức 623 USD/tấn, loại 5% tấm, tăng 10 USD/tấn so với đầu tháng 10.
Ngày 14-10, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo Việt Nam loại 5% tấm đang ở mức 623 USD/tấn, tăng 5 USD/tấn so với ngày 12-10 và tăng 10 USD/tấn so với ngày 2-10; giá gạo 25% tấm cũng tăng 5 USD/tấn, lên mức 608 USD/tấn.
Đáng chú ý, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đang gia tăng cách biệt so với gạo Thái Lan khi cao hơn 42 USD/tấn, loại 5% tấm và cao hơn 75 USD/tấn đối với loại gạo 25% tấm.
Theo các doanh nghiệp xuất khẩu gạo, giá gạo xuất khẩu tăng trở lại do nhu cầu mua tại các thị trường châu Á, châu Phi tăng lên.
Đặc biệt là tuyên bố mới đây của chính quyền Indonesia về việc cần mua thêm đến 1,5 triệu tấn gạo từ nay đến cuối năm.
Thương vụ Việt Nam tại Indonesia thông tin thêm Quyền Bộ trưởng Nông nghiệp Indonesia, ông Arief Prasetyo Adi tuyên bố trước báo giới Indonesia rằng Việt Nam và Thái Lan sẽ là hai nguồn cung gạo chính cho đợt thu mua 1,5 triệu tấn gạo tới đây của nước này.
Các thủ tục, giấy phép về việc nhập khẩu 1,5 triệu tấn gạo đang được xúc tiến để việc nhập khẩu có thể bắt đầu từ cuối tháng 10 này.
Giá gạo xuất khẩu tăng trở lại
"Việc Indonesia chọn Việt Nam là nguồn cung chính cho các đợt thu mua lúa gạo đã khẳng định thêm vị thế, uy tín chất lượng của hạt gạo Việt Nam. Nguồn cung gạo Việt Nam luôn là nguồn cung uy tín, giành được sự tin tưởng của Chính phủ và người tiêu dùng Indonesia trong bối cảnh Indonesia đang phải đối mặt với sự thiếu hụt về sản lượng lương thực sản xuất trong nước do ảnh hưởng từ hiện tượng El Nino" - Thương vụ Việt Nam tại Indonesia nhận định.
Tính đến 9 tháng đầu năm, tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Indonesia đạt 884.177 tấn, trị giá 462 triệu USD, tăng hơn 17 lần về lượng và 19 lần về giá trị. Đây là thị trường có tăng trưởng xuất khẩu cao nhất của ngành gạo Việt Nam từ đầu năm đến nay.
Hiện tượng El Nino đã khiến cho sản lượng gạo sản xuất trong nước của Indonesia sụt giảm, giá gạo tại thị trường tăng mạnh buộc nước này phải nhập khẩu thêm 1,5 triệu tấn gạo dự trữ quốc gia ngoài 2 triệu tấn gạo dự trữ đã nhập khẩu từ đầu năm tới nay.
Nguyên nhân khiến trái cây tỷ USD Việt Nam mất vị trí dẫn đầu
Từ giá trị xuất khẩu đạt gần 1,3 tỷ USD/năm, xuất khẩu thanh long nay chỉ còn khoảng 660 triệu USD/năm. Trong thời gian dài, trái cây này bị phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc.
Tại Hội nghị “Phát triển thanh long bền vững ở Việt Nam”, do Bộ NN-PTNT và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tổ chức ngày 29/9, các chuyên gia đã chỉ ra những hạn chế khiến ngành hàng tỷ USD thanh long thụt lùi.
Ông Nguyễn Quốc Mạnh, Trưởng phòng Cây ăn quả và cây công nghiệp, Cục Trồng trọt (Bộ NN-PTNT), cho hay, trong thời gian dài, Việt Nam luôn đứng số 1 về cả diện tích trồng và sản lượng thanh long xuất khẩu. Tuy nhiên, kể từ năm 2021, Việt Nam chuyển xuống vị trí thứ 2 thế giới, sau Trung Quốc.
Hiện, Việt Nam có 55.000ha trồng thanh long, sản lượng đạt khoảng 1,3 triệu tấn/năm. Trong khi, Trung Quốc có 67.000ha thanh long, sản lượng đạt 1,6 triệu tấn.
Cụ thể, nếu như năm 2020, Việt Nam có trên 65.000ha thanh long thì đến năm 2022 chỉ còn 55.000ha (giảm gần 10.000ha). Sản lượng thanh long năm 2022 giảm tới 110.000 tấn so với năm 2021.
Kim ngạch xuất khẩu thanh long cũng giảm mạnh, từ mức đỉnh đạt 1,27 tỷ USD năm 2018 còn khoảng 663 triệu USD vào năm 2022. 8 tháng đầu năm nay, giá trị xuất khẩu chỉ ở mức 350 triệu USD.
Ở chiều ngược lại, năm 2011, Trung Quốc chỉ có 3.400ha thanh long thì tới năm 2021 đã có 67.000ha, vượt Việt Nam.
Đồng tình với số liệu từ Bộ NN-PTNT, bà Trần Thanh Bình, Trưởng phòng Xuất nhập khẩu nông lâm thuỷ sản, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) chỉ ra các lý do khiến thanh long Việt "đi lùi".
Thứ nhất, 80-85% sản lượng thanh long hàng năm phục vụ xuất khẩu, chỉ có 15-20% cho tiêu dùng trong nước. Trong khi đó, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ thanh long chủ lực, chiếm tỷ trọng trên 80% tổng kim ngạch xuất khẩu thanh long.
Xuất khẩu thanh long giảm mạnh hoàn toàn do thị trường Trung Quốc giảm nhu cầu.
Thứ hai, đã có thay đổi lớn trong cơ cấu mặt hàng trái cây xuất khẩu Việt Nam.
Năm 2021, thanh long chiếm 43% trong cơ cấu các mặt hàng, sầu riêng là 7,5%. Năm 2023, tỷ trọng thanh long đã giảm xuống còn 17,7%, trong khi sầu riêng vươn lên 46,9%.
Đây cũng là một lý do khác cho thấy sự ảnh hưởng từ thị trường Trung Quốc, người dân chuyển từ tiêu thụ thanh long sang sầu riêng. Rõ ràng, trong một thời gian dài, xuất khẩu thanh long phụ thuộc lớn vào thị trường nước láng giềng.
Hiện, thanh long Việt Nam bị cạnh tranh gay gắt. Trung Quốc đang đẩy mạnh sản lượng, tập trung đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa, tác động lớn đến kim ngạch xuất khẩu thanh long của Việt Nam.
Theo đại diện Cục Xuất nhập khẩu, trước mắt, cần đẩy mạnh quảng bá sản phẩm, giới thiệu giá trị về mặt sức khỏe của thanh long, thúc đẩy tiêu dùng nội địa. Thanh long phải xây dựng được thương hiệu như xoài Lai Vung (Đồng Tháp) tại thị trường trong nước.
Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội rau quả Việt Nam, đề xuất ngành nông nghiệp tập trung tổ chức lại sản xuất thanh long, đi vào chiều sâu trên diện tích còn lại, không mở rộng thêm diện tích mới. Đồng thời, các địa phương không để thanh long bị cây trồng khác thay thế.
Theo ông, cần tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, cải thiện sức cạnh tranh của thanh long Việt Nam bằng nâng cao chất lượng, sản phẩm an toàn, giảm giá thành và tận dụng các khoảng thời gian trong năm mà Trung Quốc không sản xuất được để xuất khẩu.
Ngoài Trung Quốc, doanh nghiệp cần tìm thị trường mới cho thanh long hoặc đa dạng hoá sản phẩm chế biến từ thanh long, đáp ứng cho Mỹ, châu Âu... Đây là những nơi có nhu cầu rất lớn về sản phẩm chế biến.